TƯỚNG ĐỖ CAO TRÍ: NGƯỜI CHẾT KHÔNG YÊN – Nguyễn Trọng Hoàn

Đại Tướng Đỗ Cao Trí, một danh tướng được thế giới nể phục, một tài danh và là niềm hãnh diện của tỉnh Biên Hòa. Ông đã hy sinh trong cuộc chiến tranh chống lại sự xâm lược của Cộng sản miền Bắc, bảo vệ  miền Nam tự do. Nếu ông còn sống chắc có lẽ  không có ngày 30 tháng 4 năm 1975. Lịch sử đã sang trang, nhưng đối với kẻ chiến thắng “Nghĩa tử không là nghĩa tận” nên người chết vẫn không yên.

Để nhắc nhớ  cũng như giúp giới trẻ sinh ra sau chiến tranh được  biết về Tướng Đỗ Cao Trí, chúng ta cùng đọc lại trong phần bài viết của cựu Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi:
”Trong buổi lễ xuất quân đánh sang Campuchia của Lữ đoàn 3 Kỵ Binh tháng 1 năm 1971, Trung Tướng tuyên bố là ông sẽ sống và chết với ba quân trên chiến trường. Ông đã giữ đúng lời hứa. Ông đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho Quân đội và Tổ Quốc. Sáng ngày 23 tháng 2 năm 1971, sau khi dự buổi thuyết trình sáng ở Bộ tư lệnh hành quân Quân Đoàn III tại Tây Ninh, như  thường lệ, ông lên trực thăng chỉ huy bay sang Campuchia. Trực thăng vừa cất cánh bay lên hướng Bắc được vài phút thì phát nổ. Tất cả mọi người trên trực thăng đều tử vong. Tin Trung Tướng Đỗ Cao Trí tử trận làm xúc động dư luận trong nước và thế  giới. Báo Times và Newsweek  loan tin ca ngợi tài năng và lòng dũng cảm của ông. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu truy thăng ông lên Đại Tướng. Đại Tướng Creighton Abrams, Tổng tư lệnh quân lực Hoa Kỳ tại Việt Nam đã nghiêng mình trước linh cữu ông”
Là một vị Tướng dũng cảm khi sống  chiến đấu với lính nơi tuyến đầu lửa đạn, khi chết đi thân xác của ông được an táng bên cạnh những người lính tại Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa cũng đổi thay theo vận mạng của đất nước. Bằng sự thù hận của người chiến thắng, tượng Thương Tiếc bị lật đổ và những năm sau đó chính quyền cộng sản cũng không muốn mộ phần của Tướng Đỗ Cao Trí tồn tại nơi Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa dù nơi đây đã trở thành hoang phế. Gia đình chỉ được phép mang đi phần cốt, riêng phần kim và hiện vật nhất là những huy chương vàng, huy chương bạc được xếp vào tài sản của chính quyền cộng sản.
Người chết vẫn không yên, căn nhà số 7 đường Trịnh Hoài Đức cũ là của thân phụ Tướng Đỗ Cao Trí, là nơi thờ phượng và lưu giữ tư vật của người đã mất, cũng bị chính quyền cộng sản tìm cách san bằng có dự tính, qua việc mở con đường nhỏ dài không quá 500m nối giữa đường Trịnh Hoài Đức và Phan Đình Phùng.
Theo lời kể của anh Đỗ Cao Thông người em út của ông hiện đang sống tại Paris:’
“Năm 1984, sau khi tôi đi cải tạo về chánh quyền CS ở Biên Hòa thông báo cho gia đình biết là nên bốc mộ Đỗ Cao Trí nếu gia đình không làm thì họ sẽ làm. Tôi và anh Đỗ Cao Phước bàn nhau tìm người nào làm với tiền công gia đình có thể trả được. Lúc đó tôi nghèo lắm, cải tạo ra có còn gì đâu. Tôi thì ngủ nhờ ngoài hiên nhà anh chị 6 Thanh( nhà đã bị tịch thu 2 năm sau ngày vào trại cải tạo). Anh Phước thì cũng mới vừa ra trại. Sau cùng cũng tìm được người bốc mộ vẫn còn giữ sự tôn kính với người đã khuất bằng giá cả tượng trưng.
 Mộ do công binh làm nên chắc chắn lắm, phải đục một lớp béton dầy khoảng 20 cm, ở bên trong vẫn còn nguyên vẹn, bao nhiêu huy chương khuy áo bằng kim loại đều bị tịch thu vì họ tưởng là vàng (khi bốc mộ có công an chìm nổi đứng chung quanh). Sau đó hài cốt được đem thiêu tại Hóa An, vì hỏa thiêu bằng củi nên tro cốt còn sót lại nhiều.Tôi lấy một phần tro rải xuống sông Đồng Nai(gần cầu xa lộ ngó qua thấy Cù Lao) để một phần tro của anh trôi được trở về với quê hương, phần còn lại cho vào hủ sành đem về thờ.
Đến năm 2000, thân nhân ở Bến Gổ cho hay là dân đã lấn đất vào đất nghĩa trang gia đình, có phần mộ của ông bà, cha mẹ,chú bác…chánh quyền sở tại bảo phải lo di dời vì nơi đó sẽ thành khu dân cư.
Anh 2 Đỗ Cao Minh bên Pháp buồn lắm, gia đình bàn bạc với quyết định là chuyển hết qua Pháp. Thế là công việc bắt đầu, mua đất ở nghỉa trang, thuê người xây mộ bia. Ở Việt Nam thì vợ chồng anh Đỗ Cao Phước thuê người bốc mộ, xong chuyển vào chùa chờ đợi.
Trong cuối tháng 6/2014,gia đình ĐỖ CAO đã chuyển được hài cốt của thân nhân từ Biên-Hòa qua Pháp và cải táng tại nghĩa trang Saint-Germain du Corbéis,tinh Alençon sau một thời gian dài (4 năm thủ-tục) vì nghĩa trang gia-đình ở Bến-Gỗ sẽ bị xóa sổ.Hài cốt gồm ông bà nội Đỗ-cao-Sô,ông bà thân sinh Đỗ-cao-Lụa và Tô-thị-Dinh,ông chú Đỗ-cao-Thuận, anh thứ ba Đỗ-cao-Khải và Tướng Đỗ-cao-Trí . Con người ai cũng có cái sống và cái chết, nhưng chết rồi cũng không được để yên.Thôi đành phải xa lià quê hương lần nữa.”
Đã gần 40 năm chấm dứt chiến tranh, kẻ thắng trận  luôn kêu gọi xóa bỏ hận thù và hòa hợp hòa giải dân tộc. Chỉ tiếc là chính quyền cộng sản không xử sự được một phần như hành sử của người Mỹ sau cuộc chiến tranh nam bắc và cũng không có được tình cảm của người cựu thiếu tá Việt Nam Cộng Hòa, sau 13 năm tù đầy biệt xứ, vẫn còn đủ tấm lòng thương cảm với những người lính bên kia đã chết trong cuộc chiến:
“Ta địch bạn thù chung bia mộ,
Chung lời thương tiếc tiễn đưa nhau…”
Công và tội với đất nước lịch sử đời sau sẽ phán xét. Nhưng trong hiện tại, trên con đường xây dựng tự do dân chủ và chống giặc phương Bắc, làm sao có thể tin được người cộng sản thực tâm xóa bỏ hận thù và hòa hợp dân tộc với người sống, khi người chết vẫn chưa yên…
                           NHỮNG HÌNH ẢNH TRONG NGÀY CẢI TÁNG
Sinh Tồn chuyển
* Nhân Tin cay đắng này, mời  bạn đọc để chút thì giờ đọc truyện ngắn ĐẠI TƯỚNG VÀ TÔI của Nguyễn Trọng Hoàn, Chủ biên Điện báo Hải Ngoại Phiếm Đàm:
Ðại tướng Ðỗ Cao Trí và… Tôi !
  1.   Lý do tôi phải mào đầu dài dòng để kể câu chuyện này, như sau:
Sau khi Quân đội Việt Nam Cộng Hòa tan rã, cả nước Nam tan rã, chúng ta phải sống tha phương nơi đất khách quê người. Vì nơi dung thân là nước Mỹ, giầu có, nên tấm thân của mình, của gia đình mình, trông lên những người bản xứ thì chẳng bằng ai, nhưng trông xuống những đồng bào của mình đang còn ở quê nhà, thì quả một trời một vực! Tuy vậy, đối với một số người thì là một sự đổi đời, còn với những người khác, niềm hoài vọng ngày trở về cố hương xa lắc cứ dần dần bị xói mòn, riêng những người lính trận chúng tôi. . . Mời bạn đọc tiếp:
Bản thân tôi thì không ra gì, dở chàng dở đục, nhưng bạn bè tôi, nhìn ngang nhìn ngửa đứa nào cũng nổi tiếng. Ngày trước, chúng nổi tiếng trên chiến trường, qua Mỹ chúng nổi tiếng bằng cái nghề tay trái: Làm báo viết văn! Tôi thích mang những sở trường của họ ra khoe với những người lạ, làm cứ như những ưu điểm của họ có thể lấp trống giùm cho tôi những nhược điểm của bản thân mình.
Ðại tướng Ðỗ Cao Trí lẽ dĩ nhiên không nằm trong trường hợp trên, vì nếu như bây giờ, ai người ta cũng có thể gọi bằng thằng, càng gọi khỏe càng lộ chất “Ông” trong người mình ra. Thì ngày xưa, cái móng tay của ông ấy tôi cũng không bằng, huống chi nói là bạn với bè?
Có điều, một vị tướng ngày xưa, thì thiếu gì thuộc hạ. Tôi có may mắn là thuộc hạ của ông Ðại tướng tài ba và nhiều tai tiếng này. . .
Sau tết Mậu Thân, Việt cộng ngậm ngùi suy ngẫm học thuyết quân sự cũ rích: Tiến công và nổi dậy! Ðó là sở trường mà chúng gọi là tổng công kích.
Công là đánh tới. Kích là bẩy lên, hay xúi giục ai nổi lên. Thành phần chủ lực ở ngoài tấn công vào. Ðám nằm vùng xúi dân nổi loạn. Khốn thay cho Việt cộng trong cuộc tấn công này, bộ đội chủ lực thì xâm nhập vào được nhưng chẳng có ma nào xúi được dân nổi lên cả, ngay cả những người dẫn đường cũng lặn luôn. Nên bọn cán ngố cứ như con dế bị ngắt mất cọng râu. Thế là làm mồi cho quân ta mà thôi!
Nhân đây, tôi cũng xin mở một dấu hỏi to tướng, về âm mưu “Thay ngựa giữa dòng” của người Mỹ. Họ đã biết trước cuộc tổng tiến công và nổi dậy của Việt cộng, nhưng họ lờ đi “Ðể xem mày (VNCH) có chống cự nổi không, còn sức chống, tao giúp tiếp, dở quá, bỏ luôn.” Một bằng chứng là khoảng 26, 27 tháng Chạp là các cố vấn Mỹ ở các tiểu đoàn bộ binh và các đơn vị biệt lập đã cuốn gói trở về “hậu phương” rồi!
Thế rồi, thiên bất dung gian, kẻ gian đại bại. Ngay sau đó, trong khi Hồ mang cái hận ngàn thu ấy xuống âm ty địa phủ thì đám cán bộ mang tàn quân lết bên Căm Bốt để cùng nhau hát bài: “ Dậy mà đi!”
Tôi tham gia cuộc hành quân Toàn-thắng của Sư đoàn 25 BB, mục đích để tiêu diệt nốt đám tàn quân ấy! Chiến đoàn tôi mang tên 333 từ hướng mật khu Ba Thu, đánh xuôi xuống vùng Mõm Chó, Chi Phu. Bravet rồi theo quốc lộ 1 thọc thẳng lên Svayrieng (Xoài Riêng). Trận này, diễn tiến như thế nào, tôi sẽ kể sau.
2. Mẫu giáo
Tôi có một thói quen. mỗi khi sắp tham dự vào một cuộc hành quân xa, tôi thường xin về Sài Gòn một thoáng để thăm mẹ . Phần nghĩ đến một thời gian dài sắp tới phải nhá cái khẩu phần C. chết tiệt. Phải về với mẹ để được ăn một món gì cho khoái khẩu. Phần vì tôi luôn đeo đẳng cái cảm giác, sự sống của những người lính trận chỉ đếm bằng từng ngày một. . . “ Mình không về gặp bả, ngộ có gì. . .”
Tôi lại không bao giờ dám nói với mẹ là mình sắp đi xa: “Con hành quân ở vùng ven biên ấy mà, tạt về thăm đẻ một chút thôi rồi con phải đi liền!”
“Một chút” của tôi thường bị kéo dài bởi nồi canh cua rau đay nấu với mướp hương hoặc những miếng thịt heo cháy cạnh mà chỉ tự tay mẹ làm thì mới vừa miệng tôi thôi. . .
Lần này, chính cậu “Tà loọc” đã làm hại tôi:
– Bà có hộp dầu ông hổ nào không, con xin cho Trung úy một hộp? Ở Miên nghe nói mùa này là mùa gió chướng, Trung úy lại chỉ hợp với loại dầu này!
Mẹ tôi ngừng têm trầu:
– Lại đi đánh nhau tận bên Miên cơ à?
Tôi thấy mẹ tôi lấy khăn lau nước mắt. Ăn cơm xong, mẹ ra đi văng ngồi nhai trầu, giọng bà như muốn khóc:
– Ðánh nhau như vậy đủ rồi, hay để đẻ nói với chú Hạ (thông gia nhà tôi), nói với bác Thuần xin cho con về văn phòng?
Biết sẽ phải nghe điệp khúc ấy, tôi đứng dậy vuông vai, lấy chiếc áo trận, vừa mặc vừa nói như hát vọng cổ:
– Mẹ ơi! Mai kia mốt nọ yên giặc con cũng trở . . . Dzề!.
Mẹ tôi chì chiết:
– Con người ta, cha mẹ bảo sao nghe vậy, chúng nó ăn trắng mặc trơn, nhơn nhơn ăn học. . . Còn cái thứ con nhà này. … Ngu như bò!
Mẹ tôi đưa hộp dầu ông hổ cho chú lính, mẹ nói:
– Ở Miên họ hay dùng bùa ngải lắm đấy! Lại hay “thư” nữa đấy! Có người bụng cứ trướng lên, mổ ra một đống toàn răng với tóc không đấy nghe con! Con gái của họ, không phải như gái bên mình, đá gà đá vịt vào rồi không thích thì bỏ đâu đấy! Ðừng dại nghe con..
Khác với những lần trước, mẹ tôi đưa tôi ra tận cổng, hành động này của mẹ khiến tôi vừa xúc động vừa lo lắng. Mẹ tôi chỉ vào chiếc balô căng đầy mà chú lính đang để vào băng sau xe jeep:
– Mẹ có cho mang cho con một cỗ bài chắn, đóng quân ở đâu, trong lúc rảnh rỗi, thày trò rủ nhau đánh cò con cho vui, nhớ đừng đi lang thang nghe con.
Hai mẹ con đang bịn rịn thì Hương phóng xe tới. Mặt cô đỏ au. Mẹ tôi giữ ý, chỉ Hương:
– Thôi cô cậu giã từ rồi lên đường cho sớm, mẹ vào..
Hương cầm lấy hai cánh tay tôi, chân dậm dậm xuống đất:
– Em vừa lên hậu cứ kiếm anh, anh sắp đi Miên hả?
Tôi cười:
– Việc binh cốt ở thần tốc và bất ngờ, anh chưa xuất phát mà ngã ba Ông Tạ đã biết, Hàng Xanh đã biết thì còn đánh đấm cái mẹ gì nữa?
Hương đưa ngón tay dí vào môi tôi:
– Sao lại nói tục với em? Hôm nọ hứa cái gì nào? Em có tin mừng mới phải lên báo cho anh chứ bộ!
Tôi sướng run lên, tôi biết ngay cái tin đó là gì rồi, nhưng cũng giả vờ hỏi:
– Tin gì vậy?
Nàng lại ghé sát vào má tôi, mái tóc có mùi bồ kết làm tôi ngây ngất:
– Em “Có” rồi. Hú vía, hú vía! Mà này, anh qua bên Miên, ăn bánh trả tiền nhe!
Con gái Miên ghê lắm đấy!
3. Ngày N. . .
Lần đầu tiên từ khi tôi ra trường, tôi được “ đối đáp” với một vị Tướng, mà lại là vị tướng nổi danh mới oách chứ:
Trung tướng Ðỗ Cao Trí ngoái cổ lại hàng ghế phía sau hỏi to:
– Ông nào là Ðại đội trưởng Trinh sát đâu?
Tôi đứng bật dậy như lò xo bung:
– Có mặt.
– Nãy giờ ông có nghe kỹ diễn tiến của ngày N và N+1 không?
– Nghe rõ!
Ông Tướng đứng dậy, đưa tay ra hiệu cho Ðại tá Lều Thọ Cường, Chiến đoàn trưởng chiến đoàn 333, đưa que chỉ bảng cho ông.
Bây giờ tôi mới nhìn thấy rất rõ ngoại mạo một ông Tướng khét tiếng này. Vầng trán cao xám ngoét, đôi mắt sáng, đỏ au như mắt cá chầy ( Người ta bảo con mắt ổng có cô hồn đấy! Nhất tướng công thành vạn cốt khô mà!) Phần từ đầu tới thắt lưng, tướng pháp không chê vào đâu được, nhưng từ thắt lưng xuống tới đôi giầy “ Máp”, giống như củ khoai lang cắt đôi, dựng ngược, từ từ teo tóp. . . Tôi bỗng rùng mình, chua chát nghĩ đến chiếc bóng chênh vênh của Kinh Kha bên dòng Dịch Thủy:
Gió hiu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê.
Tráng sĩ một đi không trở về!
Tướng Trì xòe nguyên bàn tay mum múp trên tấm bản đồ không ảnh, kéo một đường dài từ Gò Dầu Hạ, dọc theo quốc lộ 1 lên tận Svayrieng:
(Ôi! Những ai từng “ đi” nhận lệnh hành quân, còn nhớ chăng cái cảm giác xương sống lành lạnh, mỗi khi thấy ông đơn vị trưởng của mình xòe tay trên một tấm bản đồ 1/25.000 trong đó một ô vuông nhỏ xíu nhưng ngoài thực tế là một cánh đồng bát ngàn, đi mù con mắt mà vẫn không tới ?)
– Ông Chuyên, cho các mục tiêu vừa thuyết trình, giạt ra xa quốc lộ 1 chừng một cây số…
Bỗng ông ngừng lại:
– Ông Cường, thằng Tiểu đoàn 1 của ông đến đâu rồi?
Ðại tá Cường, rập hai chân lại trong một cữ chỉ vừa nghiêm trang, vừa như lấp ló có tin vui:
– Thưa Trung tướng, thằng 1 của tôi vừa làm chủ Chi-Phu.
– Tốt, như thế này nhá: Ông Cường cho Bộ chỉ huy Chiến đoàn của ông, dời từ đây lên Chi-Phu. Tôi nhắc các ông từ bây giờ bọn cố vấn Mỹ không theo mình vào Miên nữa đâu đấy!
Ông nhìn mấy cố vấn Mỹ, rồi bảo người thông dịch viên:
– Dịch nguyên văn cho “chúng nó” nghe câu này: “ Phải tập đánh độc lập đi, dựa mãi vào mãi thằng Mỹ mai kia mốt nọ, chúng qua cổng rút cầu thì sao?”
Ông lại xòe bàn tay ra, dùng ngón trỏ và ngón giữa căng theo quốc lộ 1, rồi ông dùng que chỉ bảng chỉ ngay vào mặt Thiếu tướng Nguyễn Xuân Thịnh, Tư lệnh sư đoàn 25, gốc pháo binh:
– Ông Thịnh, từ đây lên Xoài Riêng còn trong tầm bắn tác xạ của Tiểu đoàn 252 Pháo binh không?
Tôi thích thú nhìn tướng Thịnh, ông Tướng có mấy sợi lông tài trên nốt ruồi đen, trên khuôn mặt to đen lạnh lùng như ông thần đất, mà mọi khi chúng tôi rất hãi, cũng phải đứng bật lên :
– Thưa, tới!
Bất ngờ tướng Trí chỉ ngay vào tôi:
– Trung úy Hoàn, mở sổ tay ra.
Tôi rụng rời. .. . Trong cái nóng hầm hập của phòng hành quân tạm, mọi người đổ dồn về phía tôi, một sĩ quan có cấp bậc nhỏ nhất, lại được tướng Trí nhớ tên. Tôi đỏ mặt, tính háo danh, và sự sung sướng lấn át hết cảm giác sợ hãi. Tự tin hơn là tôi đã chuẩn bị một quyển sổ tay, mà những sĩ quan nào, hơn một lần bị “ông Tướng sổ tay” hạch hỏi vì: “Là cấp chỉ huy mà không có quyển các-nê-đờ-nốt là một sĩ quan tồi. . .”
Tôi cầm quyển sổ tay. A! Có một điểm đầu tiên rồi đấy! Tôi thấy Tướng Trí cười:
– Quân số hành quân của ông bao nhiêu?
– Trình Trung tướng: 102. sĩ quan 9. Hạ Sĩ quan 15, binh sĩ. . .
Tướng Trí hét lên:
– Sao nhiều thế, sao sĩ quan nhiều thế, hạ sĩ quan ít thế? Bịa hả?
Ðại tá Cường đỡ cho tôi:
– Thi hành khẩu lệnh của Trung tướng trước đây, quân số các đơn vị Trinh sát phải luôn luôn bổ sung đầy đủ. Sĩ quan nhiều vì trong Trung đội viễn thám, mỗi Toán viễn thám phải có một sĩ quan trưởng toán. . .
Tướng Trí ngắt lời:
– Tôi biết rồi.
Rồi ông lại dùng que thuyết trình chỉ xuống phía dưới, giọng ông chắc nịch:
– Tất cả mở sổ tay ra.
Như cái máy, Tướng, Tá phía dưới đồng loạt để tay lên túi áo trận.
Tướng Trí đọc chính tả:
– Viết đi: Sức mạnh của một đơn vị bộ binh chiến đấu (phẩy) không phải ở lớp Sĩ quan chuyên chỉ tay năm ngón (phẩy) mà nằm trong lớp Hạ sĩ quan cốt cán (chấm) Tóm lại, bộ binh là hoàng hậu của chiến trường (phẩy) mà chiến trường thắng hay bại tùy thuộc vào cấp bậc từ Hạ sĩ nhất đến Thượng sĩ nhất, viết rõ chưa? (Chấm hết)
Rồi ông lại chỉ vào mặt tôi:
– Trung Úy lên đây.
Con người nhỏ con kia sao toát ra cái uy quyền lạ kỳ. Tôi đã vào sinh ra tử nhiều lần nhưng chưa bao giờ tôi lúng túng đến như thế. Tôi ríu tíu đỡ cây que chỉ bảng:
– Trung úy chỉ cho tôi xem đâu là Quốc lộ 1. Tốt. Ðâu là cây cầu chính vào thành phố. Tốt. . . Trung úy có thể chiếm thành phố này chỉ với một mình đại đội của Trung úy được không?
Cả sống lưng của tôi như bị điện giật. . . Một đại đội Trinh sát với một nhúm người như thế này, làm sao đây?
Tính háo danh của tôi lại bật dậy:
– Ðược, thưa Trung Tướng.
– Tốt, thế mới là trinh sát chứ! Như thế này nhá. Ông Cường cho . . .
. . . Máu háo thắng cùng niềm kiêu hãnh cứ dâng lên từng đợt trong con người phàm của tôi cho đến khi tôi tập họp đại đội dưới một thửa ruộng khô vừa xong mùa gặt. Tôi huênh hoang khoe:
– Ðích thân Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn vừa chỉ thị, một mình Ðại đội ta sẽ chiếm Tòa thị sảnh Svâyriêng !
Từ sĩ quan cho tới lính mặt mày nhớn nhác. Có nhiều người nhẩy lên vì thích thú. Có người dơ cao khẩu M16 hét lên:
– Chơi luôn!
Có vài nét mặt đăm chiêu của sĩ quan, tôi lờ đi, nói lớn, ngất ngất hào khí:
– Mọi người có nửa tiếng để sắp xếp lại quân trang quân dụng, bỏ lại hết thực phẩm, quân trang nặng nề. Tóm lại chỉ mang súng đạn cá nhân. Hai Trung đội trưởng trinh sát và Trung đội trưởng viễn thám ra đây nhận lệnh.
Lệnh có gì đâu, nhưng nghe xong, mặt ai cũng như chàm đổ. . .
Sau đấy khoảng hơn một tiếng. Hơn 10 chiếc xe vận tải dân sự từ Gò Dầu Hạ trở về Miên, bị chúng tôi trưng dụng. Trung đội trưởng kè súng vào hông người tài xế Miên, còn lính nằm ở phía sau. Ðạn lên nòng, xe cứ thế mà chạy. Trên quốc lộ phía bên Miên ngày ấy, cứ vài cây số lại có một cái bàn đặt ngay quốc lộ để đơn vị Miên nào đóng gần quốc lộ . . . thâu tiền mãi lộ!
Ðoàn xe của Ðại đội cứ thế mà chạy, qua trạm, chạy luôn, khiến những người lính Miên trên các trạm ấy xả súng vào đoàn xe, cũng may không có ai bị thương.
Tôi ngồi ngay xe thứ 2, xe trước tôi là Toán viễn thám 1 của Chuẩn úy Cừu.
Bỗng tôi thấy đoàn xe chạy chậm lại, cái dốc cầu vào thị xã cong cong làm tôi không quan sát được chiếc xe phía trước.
Có tiếng thằng Một:
– Hải Ðiểu, đây Một.
Tôi chụp máy:
– Tôi nghe đây!
Tiếng của Cừu gấp gáp:
– Trình Thẩm quyền trên đường tụi Miên giăng concertina nhiều quá, có cả mấy con ngựa gỗ nữa. . .
Một tràng súng xé không gian, tiếp theo là những tràng súng khác thi nhau vãi vào đoàn xe.
Tôi hét to trong máy:
– Cho xuống xe ngay, xung phong! Cả đại đội sẽ yểm trợ cho ông, chiếm ngay cái bốt canh kia kìa!
Một chiếc trực thăng xà ngay xuống, tôi thấy rõ Tướng Trí đội nón đỏ đang quần quần ngay trên cái đồn tôi vừa ra lệnh cho Cừu chiếm. Chiếc trực thăng đảo một vòng rồi bay lơ lửng ngay trên đồn Miên. Tôi vừa hô xung phong vừa kinh ngạc nhìn lên thấy Tướng Trí đã ngồi vào vị trí của người xạ thủ đại liên. Ông xoay họng súng vào phía lô cốt, một tay khoác khóac như cổ động cho đám quân dưới đất. Có tiếng hét của Cừu:
– Tụi nó bắn lên máy bay của ông Tướng kìa.
Một khẩu đại liên phòng không từ một cái đồn nhỏ bên phải cầu đang khạc hung hãn lên hông bên kia của chiếc máy bay. Chiếc trực thăng chao nghiêng .. .
Tôi kéo trung sĩ Thuận trong toán Viễn thám , chỉ tay về hướng ổ đại bác phòng không:
– Cậu dẫn toán men theo bên này cầu, diệt phứt cái lô cốt kia đi cho tôi.
Thuận nhận lệnh, anh dẫn toán chạy lên, vừa dùng súng M79 hướng mũi trực xạ, một tiếng nổ làm bật tung khẩu súng phòng không, đồng thời biến mất những tên lính Miên, xạ thủ của khẩu phòng không ấy. .
Chiếc trực thăng chở Tướng Trí lại vòng tới, lần này ông lại bay thấp hơn, ông biến thành xạ thủ của chiếc “ gunship”, chĩa những lằn đạn về phía đồn chính.
Bỗng mọi người dưới đất xanh mặt khi chiếc máy bay rung lên, như con rồng chuyển mình, bốc lên cao. Một cái nón đỏ, đúng là nón của ông Tướng bay vụt ra, xoay vòng vòng như chiếc lá rồi bay vút về phía cây cầu.
Những người lính trinh sát vừa hò hét vừa tiến lên, đen kịt thành cầu, những tiếng la phát ra từ những trái tim nóng hổi:
– Việt Nam, Việt Nam!
Tôi kéo chú hiệu thính viên lao tới, hai mắt tôi rưng rưng. . .
Thuận hớn hở chạy về phía tôi giơ cao chiếc mũ đỏ có ba ngôi sao gắn chéo.
Người ta bảo nóng giận thì mất khôn, nhưng vui mừng quá cũng mất khôn luôn, với lại tính háo danh nằm sẵn trong tôi, nó sai bàn tay tôi, ném cái mũ sắt đang đội, lấy cái nón đỏ đội vào đầu. Lại nghĩ: “ Có ngày “mày” cũng được “ nằm” vào đầu tao thôi!”
Tôi vừa đắc chí vừa chạy tới, chạy một quãng thì hiệu thính viên đưa cho tôi chiếc combiné:
– Mặt Trời gập Trung úy.
Tôi nghe tiếng Tướng Trí.
– Ðừng bắn, đừng bắn nữa, chúng nó từ chân cầu đang phất cờ trắng kia kìa.
Một hàng dài lính Miên, có cả đàn bà, con nít đang cầm những mảnh khăn trắng giơ cao trên đầu. Tôi vừa ra lệnh ngừng bắn thì hiệu thính viên lại đưa ống nghe cho tôi:
Tiếng tướng Trí:
– Tốt lắm, để một toán nhỏ lại giữ đầu cầu thôi, còn cậu tiếp tục đi.
Như những con gà chọi đang say đấu, chúng tôi lao cả đoàn xe về phía trung tâm thành phố. Dưới đường người ta vẫn thong thả đi lại, những người lính Miên vẫn đeo súng lơ ngơ ngắm phố. Chắc không có một ai hiểu việc gì đang sắp xẩy ra với họ.
Tiếng Cừu báo qua máy:
– Trình Thẩm quyền mục tiêu kia rồi
“Băng ga lo” hoành tráng, nơi tôi phải chiếm, đang ẩn mình dưới những tàn cây cổ thụ, mục tiêu diễm lệ của tôi kia rồi!
Xe của Cừu húc đổ ngay con ngưạ gỗ, tiếp theo xe của tôi và các xe sau trờ tối. . .
Cừu đưa khẩu colt vào ngay ngực tên lính gác, qua một người lính gốc Miên thông dịch.
– Văn phòng Tỉnh trưởng đâu?
Tên lính đưa tay chỉ về phía cổng lớn nơi có hai con ngựa đá rất to. Cả đại đội lại lao về phía đó. Chẳng có đội hình gì cả. Khi Ban chỉ huy của tôi chạy vào trong đại sảnh thì một cảnh tượng vừa tức cười, vừa thống khoái hiện ra trước mặt: Trung úy đại đội phó Trần Như Xuyên đang ghìm khẩu súng M16 về hướng những người mặc toàn lễ phục đang chắp tay lậy như tế sao!
Té ra tại đây đang diễn ra buổi đại tiệc!
Tiếng người thông dịch:
– Trong các ông, ai là Tỉnh trưởng?
Một người chắp tay xá xá. Bỗng có tiếng lao xao phía sau tôi. Có người lính hét to:
– Sao sẹt! Sao sẹt kìa!
– Vào hàng, Phắc!
Tướng Trí xông thẳng đến tôi, ông đến trước tôi khoảng ba bước, ông rập hai chân vào nhau rồi đứng nghiêm chào tôi. Tất cả quan quân mặt ai cũng xanh như tầu lá! Chết mẹ tôi rồi! Cái nón đỏ có hàng lon Trung tướng tôi đang đội trên đầu, chỉ đem cho tôi cái thích thú phù du, nhưng sẽ là một thảm họa khôn lường cho tôi.
Tôi vừa sợ hãi vừa xấu hổ , đưa tay lên đầu, giật ngay cái mũ xuống rồi bằng hai tay, trịnh trọng đưa trả nón, y như kẻ bại trận dâng cây kiếm quy hàng. Tướng Trí, chìa cả hai tay lấy chiếc nón đỏ. . . Mọi người chờ con thịnh nộ của ông Tướng Sấm Sét. . .
Ông cúi xuống gỡ ba ngôi sao ra cười hiền từ:
– Giữ giùm cậu ba ngôi sao này, còn tặng cậu cái mũ làm kỷ niệm, làm kỷ niệm thôi nhé ! Coi chừng quân cảnh bắt về tội tiếm phục quân hiệu đấy.
Mặt tôi nóng ran lên như người lên cơn sốt.
Tướng Trí đến ngay trước viên Tỉnh trưởng Miên, tính võ biền cố hữu của ông biến mất và y như một chánh khách chuyên nghiệp, ông dơ tay, bắt tay viên Tỉnh trưởng. Ông nói một tràng tiếng Pháp, tôi nghe lỏm bõm, hình như ông ra lệnh cho viên Tỉnh trưởng phải kêu gọi các lực lượng dưới quyền quy hàng, bằng cách ra lệnh cho các đơn vị ấy, tháo hết các cơ bẩm của các loại súng rồi cho chở lên các bộ chỉ huy liên hệ.
. . Rồi y như ông chủ, chính tay ông khui whisky:
– Vào đây, Ðại đội trinh sát vào đây, các chú khá lắm, “moi” phải khao các “toi” một chầu mới được. Tôi bước ra trước, nhưng ông làm tôi quê hết sức khi ông hỏi lớn:
– Chú lính nào ít thâm niên nhất, cấp bậc nhỏ nhất vào đây.
Rồi cũng y như khi lúc xung phong, chẳng kể quan lính, mạnh ai nấy ùa tới vây quanh ông y như một người thân. Chính tay ông rót cho mỗi người một ly ruợu nhỏ.
Bỗng tướng Trí lấy tay đập vào trán:
– Chú nào bắn trái M79 trúng ổ đại liên cứu “moi” thế?
Tôi chỉ vào viên Trung sĩ viễn thám:
– Trình Trung tướng, Toán phó viễn thám, Trung sĩ Thuận !
– Thấy “moi” nói có đúng không? Nhớ đấy ! Hạ sĩ quan mới là lực lượng nòng cốt của quân đội!
Ông rút trong túi ra quyển sổ tay, nhìn chăm chăm vào bảng tên của Thuận, ghi xong ông hất hàm hỏi:
– Trung sĩ nhất bao lâu rồi?
Thuận hớn hở trả lới:
– Thưa Trung tướng, gần hai năm.
Tướng Trí nghiêm nghị:
– Cho cậu lên Thượng sĩ.
Rồi ông quay lại phía tôi, nhắc lại điệp khúc:
– Phải nằm lòng, Hạ sĩ quan mới là nòng cốt. . .
Lần này không thấy ông bắt ai ghi vào sổ tay cả.
4. Cô gái Miên.
Sau khi chiếm xong dinh Tỉnh trưởng, Ðại đội Trinh sát của tôi, được lệnh kéo trở ngược lại Bravét, một thị trấn nằm giữa Chi-Pu và Svrâyriêng, vừa đóng chốt, vừa giữ an ninh cho một toán công binh chiến đấu làm cầu. Ðây là một cây cầu nhỏ nhưng rất quan trọng về mặt chiến lược đã bị quân lính của Si- Ha-Núc phá sập khi họ rút lui về Nam Vang. .. .
Buổi chiều, tôi dẫn các Trung đội trưởng đi tìm chỗ đóng quân. Ðến cây cầu đang xây, tôi nói với Ðại đội phó Xuyên:
– Cái thằng Trưởng toán công binh này, giờ này không đến nhận lệnh đóng quân là làm sao? Chúng nó làm gì mà túm quanh căn nhà sàn kia thế? Thôi ta vào đấy xem sao?
Vừa thấy chúng tôi đến. Toán người đứng xung quanh nhà sàn bỗng bỏ chạy. Biết có việc gì không ổn, toán sĩ quan đi theo tôi chạy đến. Tôi vừa bước lên chân cầu thang đã nghe thấy tiếng quát của Xuyên:
– Sĩ quan mà khốn nạn vậy à ?
Trước mặt tôi là một người con gái Miên thân thể lõa lồ, nằm tênh hênh, bất động giữa sàn nhà, một toán 5, 6 người lính đang lui cui mặc đồ. Tôi hoa mắt lên vì giận, khẩu súng colt 45 run run chĩa vào một người, có lẽ là sĩ quan đang nghênh ngang đứng trước Xuyên:
– Ông cấp bậc gì?
– Chuẩn úy!
– Mấy người hiếp dâm người phụ nữ này?
– Bẩy người.
– Tại sao ông làm cái việc vô lại này?
– Xa vợ lâu ngày, kẹt quá ông ơi!
Bỗng tôi nghe thấy người phụ nữ rên:
– “ Miên tê! Miên tê” (Trời ơi, trời ơi).
Cô cong người lên, thở hắt ra, hai bàn chân rung rung, rồi xụi lơ. Hành động cuối cùng của một sinh vật trước khi lìa đời.
Cơn giận như một nồi áp suất quá tải, bật tung, tôi nã luôn hai phát vào đôi chân đang giạng ra như thách thức của viên sĩ quan, mà ngay chiều hôm ấy, tôi biết anh ta là em của một ông Chuẩn tướng Chỉ huy trưởng của một Cục. . .
5. Phúc hữu trùng lai!
Sáu tháng sau, tôi dời Ðại đội trinh sát để sang Tiểu đoàn 2, người ta bảo, đi kèm với một sự may mắn thường là một tai nạn . . .
Hai viên đạn súng colt hôm ấy, có một viên trúng bắp vế của viên sĩ quan nọ, và viên đạn này đã đưa tôi đến cái ngưỡng cửa của Quân lao Gò Vấp
Tôi sẽ phải về trình diện phòng dự thẩm 1 ở bến Bạch Ðằng, nơi có cái một ông Ðại tá tên X. chẳng tha một ai khi phải trình diện ông ta. . .
Ðại tá Lều Thọ Cường bắt tay tôi như bắt tay một thuộc cấp lần chót. Tôi leo lên trực thăng, rồi nhìn xuống bến phà Neak-Luông. Nơi đóng quân của đơn vị tôi, nước sông cuồn cuộn đục ngầu, phẫn nộ. . . Bỗng lòng tôi chùng hẳn xuống. Tại sao cuộc đời lại có thể bất công thế nhỉ? . . .
Tôi vừa xuống máy bay tại sân bay Trảng Lớn, thì gặp máy bay của Trung tướng Ðỗ Cao Trí cùng sĩ quan tham mưu của ông cũng vừa đáp xuống. Tôi đang tính né qua cái cái hunger để tránh mặt ông thì có một Ðại tá cầm tấm bản đồ vẫy tôi:
– Ðại úy, đến trình diện Trung tướng.
Tướng Trí hỏi tôi:
– Cậu đi phép hả?
Tôi chưa kịp trả lời thì ông đã móc quyển sổ tay ra. Nhưng tôi vội nói:
– Trình Trung tướng, tôi không về phép.
Tướng Trí tròn mắt:
– Dù hả, oai nhỉ, dù bằng máy bay cơ à?
Giọng tôi bi ai:
– Trình Trung tướng lần này tôi về Sài Gòn để ra Tòa án binh!
– A! Cái vụ cậu nện cái thằng sĩ quan hiếp dâm chứ gì. Sao không bắn què cả hai chân nó luôn cho rồi? Quân đoàn đã có văn thư gửi Nha quân pháp về vụ này rồi ! Khỏi, khỏi, cho cậu về thăm cha mẹ, thăm bồ bịch 48 tiếng rồi trở lại mặt trận giết giặc cho tốt. . .
Không để tôi cám ơn, ông bỏ đi ngay.
Tôi đứng như trời trồng, giữa trùng vây của bụi, khói và nóng, thế mà người tôi mát lạnh, nhẹ tênh, tôi có cảm giác như đang đi vào cổng nhà Hương. Có giàn hoa thiên lý ngan ngát. Có nếp nhăn áo lụa vàng dậy muộn. Có hương bồ kết thoang thoảng quyện theo bước chân chim. . .
6. Người đi, đi mãi. . .
Một tháng sau, Tiểu đoàn tôi đang hành quân tại Kăm Pông Trapeck, vùng biên giới phía Ðông nam căn cứ Thiện Ngôn, trên một ngọn đồi trọc, một người lính hiệu thính viên chỉ về phía Trảng Lớn la to:
– Một em gẫy cánh rồi!
Tôi ngoảnh lại, một khối đỏ như một quả cầu, đang ôm một chiếc trực thăng xoay vòng vòng rồi đâm nhào xuống đất.
Ngay tối hôm ấy, tôi được biết chiếc máy bay ấy đã chở cố Ðại tướng Ðỗ Cao Trí về miền đất yên lành không bao giờ có tiếng súng trận nữa.
Tôi bước ra ngoài lều vải, chòm sao Hiệp sĩ (Orion) đêm nay có cái đầu bị mây đen che khuất, có thanh gươm mờ nhạt, nhấp nháy như muốn khóc.
Nguyễn Trọng Hoàn

Leave a Reply