TÀI LIỆU TỰ HỌC CÁCH KHÁM BỆNH VÀ TỰ CHỮA KHỎI CÁC BỆNH THEO PHƯƠNG PHÁP Y HỌC BỔ SUNG THỰC DỤNG.

 I-CÁCH KHÁM BỆNH CẦN PHẢI CHO BIẾT :

Cao bao nhiệu, cân nặng bao nhiêu ?

Đo áp huyết 2 tay (lấy cả 3 số tâm thu, tâm trương, nhịp tim) và đường-huyết 3 giai đoạn

Đo áp huyết 2 tay là biết bệnh của ngũ tạng (lấy cả 3 số tâm thu, tâm trương, nhịp tim) và đường-huyết 3 giai đoạn :

Đo bên trái biết bệnh của tâm, tỳ vị và phổi

Đo bên phải biết bệnh của tim gan, thận

Đo áp huyết 2 tay và đường trước và sau khi ăn sẽ biết tất cả nguyên nhân các bệnh từ đó cách chữa là điều chỉnh lại ăn, uống tập luyện cho áp huyết và đường trở lại bình thường theo tiêu chuẩn tuổi thì khỏi bệnh. 

a-Trước khi ăn ?

b-Sau khi ăn ?

c-Sau khi tập bài gì theo tài liệu hướng dẫn.?

Bất cứ ăn hay uống thuốc gì, hay tập luyện bài gì, cũng phải kiểm chứng kết quả bằng máy đo áp huyết 2 tay và đường mà không cần hỏi ai, nếu áp huyết và đường lọt vào tiêu chuẩn thì tốt, không lọt vào tiêu chuẩn là sai .

 

II- TIÊU CHUẨN ĐƯỜNG-HUYẾT :

Tiêu chuẩn đường-huyết theo W.H..O.. 1979 có chia 2 giai đoạn rõ ràng để biết cơ thể chuyển hóa đường ra sao là bệnh đường huyết cao hay đường-huyết thấp :

a-Khi đói : từ 100-140mg/dL, (6.0-8.0mmol/l)

Nếu khi đói cao hơn tiêu chuẩn là đường-huyết cao, nếu thấp hơn tiêu chuẩn là đường-huyết thấp. Nhưng có thể kết luận là bệnh tiểu đường cao hay thấp.

b-Khi no sau khi ăn, từ 140-200mg/dL.   (8.0-11.0mmol/l)

Nếu cao hơn tiêu chuẩn là đường-huyết cao, thấp hơn tiêu chuẩn là đường-huyết thấp. Nhưng có thể kết luận là bệnh tiểu đường cao hay thấp.

c-Bệnh tiểu đường cao là khi cơ thể không hấp thụ và chuyển hóa được đường trong máu, khi đói đường huyết cao như tiêu chuẩn khi no, và sau khi ăn đường-huyết cao hơn tiêu chuẩn khi no.

d-Đo đường-huyết khi cao sau 4 tiếng đường-huyết vẫn cao không xuống mới là người bị bệnh tiểu đường cao. Ngược lại đo đường-huyết cao, nhưng sau 4 tiến đường-huyết tự động hạ xuống thấp, theo biến chuyển trong ngày sau khi ăn thì nằm trong tiêu chuẩn cao, khi đói sau 4 tiếng đường huyết nằm trong tiêu chuẩn thấp, thì chức năng chuyển hóa đường của cơ thể tốt, thì không phải là người có bệnh tiểu đường.

A-Những dấu hiệu bệnh do thiếu đường, hay bệnh đường-huyết thấp :

How much is too much?

The American Heart Association ( Hội Tim Mạch Hoa Kỳ) has made the following recommendations about sugar limits:

Children = Limit to 3-4 teaspoons per day (trẻ em 3-4 thìa cà phê đường mỗi ngày)

Adult women/teens= Limit to 5-6 teaspoons per day (phụ nữ 5-6 thìa cà phê đường mỗi ngày)

Adult men/teens= Limit to 8-9 teaspoons per day (nam từ 8-9 thìa đường cà phê mỗi ngày)

 

Những chứng bệnh do bệnh nhân khai dưới đây được thống kê chưa được tây y bổ sung vào triệu chứng của bệnh đường-huyết thấp ( đường dưới 6.2mmoml/l = 104mg/dL) gây ra nhiều bệnh nan y mãn tính và cuối cùng tế bào sẽ trở thành ung thư, gồm các bệnh như sau :

 

Thoái hóa xương cổ, thoát vị đĩa đệm, vẹo cột sống, cứng cổ gáy vai, tê đau nhức tay vai, đau lưng, chân, đầu gối, gót chân, đi khó khăn, parkinson (run tay chân), bệnh cholesterol, gout, thần kinh tọa, giảm trí nhớ, lồi điã cột sống, liệt đường ruột, hư thận phải lọc thận 3 ngày/tuần, nhức nửa đầu, dị ứng, đau lưng xuống thận qua bụng ra sau lưng dấu hiệu của sạn thận. nhức đầu, đau đầu chóng mặt, ho suyễn kinh niên, khó thở, yếu bao tử, bao tử ăn không tiêu, ợ hơi, trào ngược thực quản, bướu cổ, ung thư bao tử, đi cầu ra phân sống, bệnh tâm thần, mất ngủ, đau nhức mỏi toàn thân, bị chóng mặt mệt tim. bệnh tiểu nhiều, rối loạn tiền đình, rối loạn thần kinh, mất ngủ, bụng căng cứng to, yếu sức, đi đứng chậm chạp, người xanh xao, đi hay lảo đảo, khi đi đau bàn chân, đầu cổ cứng không quay trái phải hay cúi ngửa được, ù tai, mắt sụp, nhìn không có thần, bệnh trầm cảm, tâm thần, dễ bị vong nhập, liệt mặt méo miệng, hoăc mắt bị chói, thấy xung quanh tối sầm thoáng qua, u xơ tử cung ,(xơ hóa sợi cơ, u lành tính tái phát tại chỗ, ung thư vú, ung thư tử cung, viêm gan , suy thận độ 2, mắt mù dần, bại xuội chân tay vô lực do áp huyết thấp và đường thấp khác với stroke tai biến gây liệt cứng, động kinh co giật, thiếu đường sẽ bị loãng xương, chân yếu đi hay bị té ngã gẫy xương, và bệnh thường gặp khi bỗng nhiên tụt thấp đường-huyết mà không biết, bị ớn lạnh xuất mồ hôi, chóng mặt xây xẩm có dấu hiệu như trúng gió muốn té xỉu, phải uống đường ngay tức khắc chứ không phải cạo gió bệnh nhân sẽ chết ngay nếu không cứu kịp bằng đường.đặc biệt khi đường huyết tụ thấp bao tử không đủ năng lượng đường co bóp thức ăn thành chất lỏng thì thức ăn sẽ biến thành đàm mà tây y goi là cholesterol, nên ngày nay những bệnh nhân đang dùng thuốc trị tiểu đường đều phải dùng thêm thuốc trị cholesterol có chất statins có phản ứng phụ khi đường huyết tụt thấp thiếu oxy nuôi não gây hôn mê bất tỉnh, khi tnh dậy bị mất trí nhớ không phục hồi lại được,

Các bệnh kể trên nguyên nhân do thiếu đường, thì thuốc chỡa phải là đường mới là chữa vào gốc bệnh, để trả lại đường phục hồi lại sự sống cho tế bà, chứ không phải là thuốc chữa bao tử, tuốc thần kinh, thuốc chỡa trầm cảm, hay thuốc giảm đau,,,chỉ là chữa ngọn bệnh tạm thời chứ không chữa cho khỏi bệnh do thiếu đường

 

B-Phòng ngừa hôn mê như người thực vật hay bị chết âm thầm trong đêm do tụt đường huyết.

Tối trước khi đi ngủ hay khi nằm nghỉ, uống thêm đường lên 140mg/dL (8.0mmol/l) tập nằm thở thiền ở Đan Điền Tinh hay Mệnh Môn làm hạ áp huyết, ngủ ngon. Sáng dậy đo đường còn 6.0mmol/l là an toàn. Trước khi đi ngủ cấm không được uống thuốc hạ đường, khi đường còn 6.0mmol/l, mà ngược lại cần phải uống thêm đường, nếu không uống thêm đường trước khi đi ngủ thì sẽ ngủ mê mệt khó tỉnh dậy, vì sáng dậy đo lại đường thấy tụt thấp chỉ còn 4.0mmol/l, vì ban đêm cơ thể nghỉ ngơi đường sẽ chuyển hóa để nuôi tế bào. Nếu trường hợp không uống thêm đường, trước khi đi ngủ là 6.0mmol/l, theo lý thuyết, khi nghỉ ngơi đường được chuyển hóa sẽ còn 4.0, bệnh nhân không biết lại có thói quen uống thuốc hạ đường-huyết trước khi đi ngủ, thì trong đêm đường-huyết xuống dưới 3 thì chết trong đêm, nếu còn trên 3.ommol/l sẽ hôn mê sâu nhưng không chết toàn thân, chỉ não bị chết một phần do thiếu oxy, thì trở thành người thực vật, do đó hiện nay trong các house-care bên Hoa Kỳ đang chăm sóc nhiều bệnh nhân người thực vật, không cần thở oxy, vẫn khỏe mạnh như người ngủ say không cử động, cho ăn bằng ống qua cổ họng, Còn nhiều người bị hôn mê chết trong đêm do dùng thuốc hạ đường-huyết trước khi đi ngủ mà không chịu đo đường-huyết trước khi đi ngủ nên bị tụt thấp đường xuống mà chết do tim ngưng đập, lúc đo đường-huyết những bệnh nhân này có khi còn 2.5mol/l, lúc đó không thể cứu sống kịp bằng cách cho uống đường. Muốn đề phòng chuyện không may này xẩy ra, cần pha 1 chai nước 1/2 lít với 6 thìa đường cát vàng, để đầu giường, khi người cảm thây yếu, mệt tim, hồi hộp, chân tay run, bần thần trằn trọc khó ngủ, chóng mặt, hoa mắt, đổ mồ hôi là dấu hiệu tụt đường-huyết, phải lấy ngay chai nước đường uống ngay, nếu không kịp sẽ bị suy tim, tim ngưng đập và não sẽ bị chết do thiếu oxy.

 

“Sát thủ” của sức khỏe hiện nay chính là đường. Thiếu hay thừa đường gây hại cho sức khỏe.

Cơ thể thiếu hay thừa đường gây ra bệnh. Mỗi ngày dùng không quá 12 thìa cà phê đường, theo tiêu chuẩn của Hội Tim Mạch Hoa Kỳ, bảo vệ tim mạch không bị bệnh, lượng đường cần mỗi ngày :

Nừ : 6 thìa đường mỗi ngày

Nam 9 thìa đường mỗi ngày

Con người cần năng lượng trung bình để hoạt động mỗi ngày là 2000 calories tương đương 12 thìa đường.

http://khicongydaotoronto.com/forum/viewtopic.php?f=12&t=7327&p=14889#p14889

“Sát thủ” của sức khỏe hiện nay chính là đường : Cơ thể thiếu hay thừa đường đều gây ra bệnh, không nên ăn vượt quá 12 thìa …

 

Cấp cứu ngất xỉu hôn mê kịp lúc do đường-huyết tụt thấp sau khi tập thể dục

https://youtu.be/mY7ESDDfzoE

 

Cảnh báo :

Những bệnh do thiếu đường, biến chứng bệnh phát sinh chỉ có 3 nguyên nhân :

 

1-Chỉ có biến chứng sau khi uống thuốc chữa bệnh tiểu đường đối với người bị tây y cho là có bệnh tiểu đường, do tây y hạ thấp tiêu chuẩn đường-huyết thâp dưới 6.5 mmol/l=110md/dL như hiện nay.

 

2-Những người tự cho là không có bị bệnh tiểu đường chiếm đa số, vì sợ biến chứng của bệnh tiểu đường, do tây y tạo ra DỊCH BỆNH TIỂU ĐƯỜNG, khi đi khám bệnh, đo đường-huyết thấp dưới 5.0mmol/l. bác sĩ nói tồt thì càng có nhiều biến chứng hơn những người bị bệnh tiểu đường.

 

3-Bệnh glycogen thiếu enzyme không chuyển hóa, do đường-huyết thấp

Biến chứng của đường-huyết thấp do nguyên nhân 1 và 2 giống nhau :

Chúng ta hãy theo dõi đường-huyết trong thống kê, những dấu hiệu bệnh thiếu đường khi đói đều dưới 100mg/dL, khi no đều dưới 140mg/dL là nguyên nhân gây bệnh

Những chứng bệnh do bệnh nhân khai dưới đây được thống kê chưa được tây y bổ sung vào triệu chứng của bệnh đường-huyết thấp gây ra nhiều bệnh nan y mãn tính và cuối cùng tế bào sẽ trở thành ung thư, gồm các bệnh như sau :

 

1-Bệnh tiêu hóa :

Bệnh yếu bao tử, bao tử ăn không tiêu, ợ hơi, trào ngược thực quản, bướu cổ,bao tử teo nhỏ dần hay vách thành bao tử chai cứng dần không đàn hồi co bóp chuyển hóa thức ăn, làm bụng căng cứng gây nghẹt tim, khó thở, thể lực không có sức yếu dần,

 

2-Bệnh tim mạch :

Mệt tim, hồi hộp, suy tim, nhịp tim đập chậm, cholesterol, mỡ bao tim làm hẹp van tim

 

3-Bệnh gan thận :

Suy thận phải lọc thận 3 ngày/tuần, dị ứng, đau lưng xuống thận qua bụng ra sau lưng dấu hiệu của sạn thận. suy thận ù tai, viên gan,gan nhiễm mỡ.

 

4-Bệnh hô hấp :

Ho suyễn kinh niên,

 

5-Bệnh bài tiết :

Liệt đường ruột, đi cầu ra phân sống, bệnh tiểu nhiều, hoặc bí tiểu do thoái hóa dạng tinh bột, thận không lọc ra nước tiểu trong.

 

6-Bệnh thần kinh:

Tê nhức tay đau lưng, chân, đầu gối, gót chân, đi khó khăn, parkinson, thần kinh tọa,đau nhức tê vai tay chân, nhức nửa đầu, đau đầu chóng mặt, đau nhức mỏi toàn thân, bị chóng mặt hoa mắt, rối loạn tiền đình, đi đứng chậm chạp, người xanh xao, đi hay lảo đảo, khi đi đau bàn chân, liệt mặt méo miệng, tê liệt bại xuội chân tay vô lực do áp huyết thấp và đường thấp khác với stroke tai biến gây liệt cứng, động kinh co giật, tay chân run rẩy co giật do đang thiếu đường.

 

7-Bệnh mắt :

Hoa mắt, mắt mờ dần phải thay kinh đeo mắt cho đến khi thiếu máu thiếu đường lên nuôi  mắt khiến mắt mù .mắt sụp, nhìn không có thần, hoăc mắt bị chói, thấy xung quanh tối sầm thoáng qua,

 

8-Bệnh xương khớp thoái hóa:

Thoái hóa xương cổ, thoát vị đĩa đệm, vẹo cột sống, cứng cổ gáy vai,gout,lồi điã cột sống, đầu cổ cứng không quay trái phải hay cúi ngửa được, thiếu đường sẽ bị loãng xương, chân yếu đi hay bị té ngã gẫy xương,

 

9-Bệnh tâm thần :

Giảm trí nhớ, bệnh tâm thần, mất ngủ, quá xung động quá khích như điên dại hay bệnh trầm cảm chán đời dễ bị vong nhập.

 

10-Bệnh ung thư :

Ung thư bao tử, ung thư phổi, ung thư vú, ung thư tử cung, u xơ tử cung ,(xơ hóa sợi cơ, u lành tính tái phát tại chỗ, ung thư gan, ung thư ruột, ung thư đại tràng, ung thư tuyến tiền liệt,

 

11- Và bệnh thường gặp :

Bỗng nhiên tụt thấp đường-huyết mà không biết, bị ớn lạnh xuất mồ hôi, chóng mặt xây xẩm có dấu hiệu như trúng gió muốn té xỉu, phải uống đường ngay tức khắc chứ không phải cạo gió bệnh nhân sẽ chết ngay nếu không cứu kịp bằng đường. …..

 

12-Mười loại bệnh do glycogen thiếu enzyme không chuyển hóa đường :

 

1-Bệnh dự trữ glycogen (GSD) loại bệnh I :

Là bệnh làm hại gan thận làm thay đổi bạch cầu trung tính

 

2-Bệnh dự trữ glycogen loại bệnh II:

Gây ra bệnh tim, cơ bắp và xương, suy thoái cơ nghiêm trọng ảnh hưởng đến tim, xương, và cơ hô hấp của bệnh nhân, sẽ bị chết vì suy tim và suy hô hấp,người bệnh mất khả năng vận động phải nằm liệt giường, giảm chức năng hô hấp phải trợ thở bằng máy, có thể tử vong do biến chứng của hô hấp và tim mạch, nguyên nhân do trong thức ăn thiếu đường từ thức ăn, khi mà cơ thể không chuyển hóa được glycogen dự trữ, chúng đã bị bệnh.

 

3-Bệnh dự trữ glycogen bệnh loại III :

Bụng sưng do gan lớn. Sự chậm trễ tăng trưởng trong thời thơ ấu. Lượng đường huyết thấp. Nồng độ chất béo cao trong máu. Cơ bụng nhão.

 

4-Bệnh dự trữ glycogen bệnh loại IV :

Là bệnh Andersen do kết quả và tích tụ bất thường của glycogen trong gan, cơ và hoặc mô làm sưng gan lách to, xơ gan, suy gan, gan có sẹo dẫn đến những biến chứng bất thường của bệnh giảm trương lực cơ xương như yếu teo cơ, bệnh tim gây phù tổng quát và hệ thần kinh trung ương ảnh hưởng đến bộ não và tủy sống, và hệ thần kinh ngoại biên bao gồm điều hòa huyết áp, nhiệt độ, và nhịp tim, ảnh hưởng bệnh này có khả năng đe dọa tính mạng dẫn đến cái chết sớm, hoặc có thể cấy ghép gan. 

Ngoài ra, một số biến thể của bệnh thần kinh cơ Andersen- cho các bé mới sinh thấy rõ khi mới sinh, vào cuối thời thơ ấu, hay trưởng thành. Bệnh di truyền do cha mẹ kiêng đường làm suy yếu chức năng tụy tạng không giúp tế bào có đủ máu đủ đường để phát triển.

Các dây thần kinh ngoại vi mở rộng từ thần kinh trung ương đến cơ bắp, các tuyến, da, giác quan, và cơ quan nội tạng. dây thần kinh ngoại biên bao gồm các dây thần kinh vận động, dây thần kinh cảm giác, và thần kinh của hệ thần kinh tự trị, Có thể bao gồm mất cảm giác ở chân, yếu cơ tiến triển của tay và chân, dáng đi rối loạn, Khó khăn đi tiểu, suy giảm nhận thức nhẹ hoặc mất trí nhớ.

 

5-Bệnh dự trữ glycogen bệnh loại V :

Bệnh McArdle là một bệnh di truyền do cha mẹ thiếu đường sanh ra, gây ra đau cơ nặng và bị chuột rút. Làm tổn thương cơ bắp, yếu cơ làm ảnh hưởng đến xương.

 

6-Bệnh dự trữ glycogen loại VI :

Gọi là bệnh Hers, thuộc nhóm lưu trữ glycogen ở gan.

Do lượng đường trong máu thấp (hạ đường huyết do kiêng đường hay do dùng thuốc)  có thể gây ra các triệu chứng muốn ngất, yếu, đói, và căng thẳng. giảm trương lực cơ và yếu cơ bắp nhẹ có thể xảy ra trong một số trường hợp.

 

7-Bệnh dự trữ glycogen bệnh loại VII:

Còn gọi là bệnh Tarui, là một rối loạn di truyền gây ra do cha mẹ kiêng đường,  xuất hiện trong thời kỳ thơ ấu gây ra đau cơ, xẩy ra sau khi vận động mạnh như thể dục, dẫn đến buồn nôn và ói mửa, sẽ hại thận làm suy thận, gây ra bệnh vàng da và tròng trắng của mắt bị vàng, và làm suy nhược cơ, di truyền cho trè sơ sinh suy tim, khó thở thường không thể sống sót.

Đối với người lớn tuổi sẽ bị yếu cơ bắp, thiếu hồng cầu, nguyên nhân thiếu đường chuyển hóa nuôi máu làm ra bệnh tây y gọi là bệnh thiếu máu tan máu, các tế bào máu đỏ bị chia nhỏ ra (gọi là tan máu) là thiếu hụt máu.

 

8- Bệnh dự trữ glycogen bệnh loại VIII :

Trong loại VIII, gan và não bị ảnh hưởng, có gan to, tổn thương dây thần kinh sọ não thứ tư và run tay cùng bên nghiêm trọng, đánh dấu rung giật nhãn cầu, chóng mặt và ói mửa, và có thể chặn dòng chảy dịch não tủy (tắc nghẽn não úng thủy), và rung giật nhãn cầu, sự suy thoái thần kinh tiến triển đến co cứng, dẫn đến cái chết.

 

9-Bệnh Glycogen loại IX :

Loại bệnh này không thể chuyển hóa glycogen, nên thừa nước tương tích tụ trong gan làm gan sưng to bất thường do nhịn ăn hay thuốc làm hạ đường,, hoặc trong cơ bắp, hoặc cả hai.

Gan lớn ở trẻ em ở tuổi ấu thơ, do di truyền từ cha mẹ kiêng đường làm chúng chậm tăng trưởng, trì hoãn sự phát triển vận động, ở người thanh thiếu niên không phát triển bình thường về chiều cao, yếu gan, ở người lớn bị xơ hóa trong gan khiến đau co rút gân cơ.

 

10-Bệnh Glycogen loại X :

Loại bệnh này chính là bệnh mất cân bằng đường và insulin do kiêng đường và đường trong máu thấp và bệnh không chuyển hóa glycogen-glucose do thiếu enzyme.bao gồm các loại bệnh từ loại I đến loại VII.

 

KẾT LUẬN :

 

Chúng ta không hè có bệnh tiểu đường, chỉ có thiếu đường mới gây ra bệnh cho chúng ta đời nay và di tuyền bệnh cho con cháu đời sau do kiêng sợ đường.

Nếu không có máy thử đường, khi có dấu hiệu như dưới đây là biết chúng ta đang bị tụt thấp đường-huyết, phải uống đường, ăn 3 cục đường hay 2,3 bánh ngọt rắc đường, uống 1 ly nước mía, uống 1 lon Coca, Pepsi, hay 5 cục kẹo nấu hoàn toàn bằng đường không pha bột

Đổ mồ hôi, mệt tim, khó thở, tay chân run, run sợ, hoa mắt chóng mặt, mắt tự nhiên mờ, mặt sắc tái, yếu sức, chân tay lạnh như trúng gió, đầu ngón tay lạnh, xót ruột, đói.

Dấu hiệu này được gọi là hết hạn các hiệu ứng adrenergic của hạ đường huyết vì cơ thể phản ứng với các mức độ glucose trong máu thấp bởi các thế hệ của các kích thích tố phản quy định chủ yếu là adrenalin và glucagon. Sau đó đường huyết giảm thấp hơn nữa thì co thêm những dấu hiệu thường là:

Nhầm lẫn, khó chịu, đổi hành vi như vậy là gây hấn, kích động bạo lực hoặc trao đổi cảm giác như vậy là nhìn mờ

Khi đường-huyết hạ thấp dưới 3.5mmol/l là bất tỉnh hôn mê, dẫn đến mất máu não chết người..

 

Quan trọng cần nhớ:

Các triệu chứng cảnh báo khác nhau lệ thuộc tình trạng khí-huyết-đường (=áp huyết) thay đổi trong con người ở thời điểm khác nhau. Ví dụ, sau khi tập thể dục đường sẽ hạ nhanh chóng.

 

Nó rất phổ biến cho người bị bệnh tiểu đường để từ chối uống thêm đường hay người chăm sóc gia đình hoặc con cái quen với những dấu hiệu biến chứng thường gặp đó có rất ít khả năng hiểu biết thực tế của 10 bệnh này do hậu quả thiếu đường mà vẫn kiêng sợ đường! Nhất là các bà mẹ mang bầu kiêng đường di hại 10 bệnh này cho con và các thế hệ mai sau.

Nếu chúng ta là người rất ít khả năng hiểu biết trong một xét nghiệm máu thì kết quả không nhất thiết phải đáng tin cậy. Chỉ cần có những triệu chứng cảnh báo trên  cơ thể sẽ có mối nguy hiểm sắp xảy ra là hạ đường huyết, có thể không cứu kịp tánh mạng.

 

Xem thêm video cảnh báo về đường huyết hạ của bác sĩ Phan Huy Anh Vũ chuyên khoa bệnh tiểu đường :

https://www.youtube.com/watch?v=1c1wDr7GzfQ

hậu quả liệt nửa người, đột quỵ..

 

Để đề phòng an toàn tai biến do đường, chúng ta tuân theo tiêu chuẩn cũ của Y Tế Thế Giới nãm 1979, khi đói từ  6.0-8.0mmol/l (100-140mg/dl), khi no từ 8.0-11.0mmol/l (140-200mg/dl), và khi cảm thấy hơi chóng mặt, khó thở, mệt tim do làm việc làm tụt đường-huyết phải đo đường, nếu không đúng tiêu chuẩn phải uống đường 2-3 thìa đường cát vàng ngay. Cần mua 1 máy đo đường, dù không có bệnh cao đường, nhưng đề phòng bệnh thiếu đường để không bị 10 tai biến do thiếu đường kể trên giết người một cách âm thầm lặng lẽ.

Xin mọi người hãy tỉnh thức đừng si mê cố chấp vào kiến thức của mình, không những tự hại mình mà còn vô minh hù dọa người khác gây ra nghiệp bệnh.

 

Do đó những ai bị những chứng bệnh kể trên, biết nguyên nhân bệnh là thiếu đường do tiêu chuẩn ngành y tự hạ xuống qúa thấp, tạo ra nhiều bệnh “để bán bệnh cho mình mua thuốc”. Mình tự phải bào vệ sức khỏe cho mình, nguyên nhân thiếu đường thì uống thêm đường cát vàng, hay trong thức ăn cho thêm đường, và tập thể dục khí công, các bệnh kể trên tự nhiên biến mất không cần thuốc. Thánh nhân đã nói : Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống. Còn Đạo Phật dạy con người biết sống trung dung, về y học có nghĩa là không để áp huyết cao quá, áp huyết thấp quá, không để đường cao quá, cũng không để đường huyết thấp quá thì không bao giờ bị bệnh.

Còn chúng ta thì cực đoan, vừa uống thuốc làm hạ áp huyết và hạ đường càng thấp càng tốt không chịu ngưng cứ uống thuốc suốt đời để thành bệnh nan y khác, phải chăng là si mê ?

Nhất là những Phật tử không tin vào chân lý Phật pháp, tất cả là vô thường biến đổi theo luật nhân quả, thì không có bệnh nào cố định phải dùng thuốc suốt đời, chỉ có vô minh, tạo nhân xấu có hậu quả xấu, nhân tốt nhận được kết qủa tốt, như biết dùng thuốc áp huyết và thuốc hạ đường là nhân, hậu quả là áp huyết và đường đã xuống thấp thành bệnh áp huyết thấp, đường-huyết thấp mà vẫn cứ tiếp tục dùng cho ra hậu quả xấu.

Vậy kiêng đường là nhân gây ra những biến chứng hậu quả bệnh như trên là quả tốt hay xấu, nếu nhân xấu thì do nguyên nhân kiêng đường là nhân xấu hay tốt mình tự biết, vì không biết luật nhân quả nên còn cố chấp vào sở tri kiến là trí thức học giả, nên khó chấp nhận thay đổi, dở hơn người phàm phu biết hậu qủa xấu, họ biết tránh nguyên nhân xấu dễ dàng hơn những người mà kiến thức đã đầy tràn ly nước, không thể đổ thêm nước mới vào ly của mình.

 

Phản hồi :

Thưa thầy,

Theo kinh nghiệm của con trong hai năm uống đường: Lượng đường phải tỷ lệ thuận với thời gian tập. Tập không đủ mà uống nhiều thì: mắt đỏ kè, trong người thấy khó chịu, vuốt đường kinh tỳ bị đau….vì uống nhiều đường mà cơ thể không có khả năng hấp thụ, nên ngoài Kéo Gối, vuốt bụng, phải đi cầu thang, thở hóp bụng và cúi lạy ngồi cho đường có thể ra tay chân đầu. Nếu không tập được thì uống đường vào phải thở hóp bụng. Tập càng nhiều, nội tạng càng mau bình phục thì lượng đường cũng tăng mà không bị những triệu chứng trên. Nương theo cơ thể của mỗi người, chứ uống nhiều hơn mức cơ thể có thể hấp thụ thì chỉ có hại mà thôi.

Kính Thầy

chau

 

Leave a Reply